MỘT ĐỜI VÌ NƯỚC, TRỌN NGHĨA VỚI DÂN
Trong những ngày tháng Tám này, dòng sông Hậu vẫn lặng lẽ trôi qua những vườn cây xanh mát. Ở nơi ấy, ngày 20/8/1888, cậu bé Tôn Đức Thắng cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình nông dân. Quê hương khi ấy còn là những con đường đất, những mái nhà bên sông và những câu chuyện về các nghĩa sĩ chống Pháp như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Đốc Binh Kiều... Những câu chuyện ấy cùng với truyền thống yêu nước của vùng đất Nam Bộ kiên cường đã sớm gieo vào tâm hồn người con của Cù lao Ông Hổ tình yêu quê hương, lòng thương người và khát vọng làm điều có ích cho dân, cho nước.
Năm 1907, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn. Từ một thanh niên rời quê đi học việc, Người dần bước vào thế giới của những người lao động (NLĐ) và tận mắt chứng kiến cảnh công nhân (CN) bị áp bức, bóc lột. Năm 1909, Tôn Đưcá Thănæ g tham gia vận động học sinh (HS), lính thủy bãi khóa; năm 1910 vận động CN đấu tranh chống sự hà khắc của chủ và cai, đòi tăng lương; đến năm 1912 lại tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của CN Ba Son và vận động HS Trường Cơ khí Châu Á bãi khóa.

Tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại tỉnh An Giang
Những bước đi đầu tiên ấy từng bước đưa người thanh niên Tôn Đức Thắng đến gần hơn với phong trào CN và con đường đấu tranh vì dân tộc. Từ những gì mắt thấy, tai nghe trong đời sống NLĐ, Người nhận ra sức mạnh của sự đoàn kết và sức mạnh của tổ chức.
Ngày 20/4/1919, trên chiến hạm Phơ- răng-xơ ở biển Đen, Tôn Đức Thắng tham gia sự kiện kéo cờ đỏ ủng hộ nước Nga Xô viết và phản đối sự can thiệp vũ trang của các thế lực đế quốc. Từ một CN Việt Nam hoạt động trong phong trào CN Pháp, Người đã trở thành một trong những người Việt Nam sớm thể hiện tinh thần quốc tế của giai cấp CN. Hành trình từ Cù lao Ông Hổ đến biển Đen đã mở ra không gian lớn hơn cho cuộc đời Tôn Đức Thắng: Từ tình yêu quê hương đến lý tưởng Cách mạng, từ cuộc đấu tranh của NLĐ Việt Nam đến phong trào Cách mạng thế giới.
Năm 1920, trở về Sài Gòn, Tôn Đức Thắng cùng những người bạn chiến đấu thành lập và lãnh đạo Công hội bí mật, đó là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp CN Việt Nam, đánh dấu bước chuyển từ một lực lượng chưa có tổ chức thành lực lượng biết tập hợp, đoàn kết và đấu tranh có tổ chức. Từ đây, phong trào CN Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển mạnh hơn. Tháng 8/1925, cuộc đấu tranh của CN Ba Son giành thắng lợi, trở thành dấu mốc quan trọng của phong trào CN Việt Nam.
Tổ chức do Tôn Đức Thắng sáng lập còn trở thành cơ sở quan trọng cho sự hình thành, phát triển của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ, góp phần đưa Chủ nghĩa Mác - Lênin đến với phong trào CN và phong trào yêu nước. Từ thực tiễn ấy, Tôn Đức Thắng trở thành một trong những chiến sĩ lớp đầu tiên của phong trào Cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc ở VN.
Tháng 7/1929, Tôn Đức Thắng bị bắt và năm sau bị đày ra Côn Đảo. Gần 17 năm giữa “địa ngục trần gian”, người chiến sĩ Cách mạng ấy vẫn không để nhà tù khuất phục mình. Người tham gia vận động thành lập Hội cứu tế tù nhân, góp phần thành lập Chi bộ Cộng sản trong nhà tù Côn Đảo. Tôn Đức Thắng tích cực học tập, truyền bá lý luận và cùng đồng chí tổ chức đấu tranh. Những trang sách về Mác, Ăngghen, Lênin được bí mật đưa vào nhà tù đã trở thành nguồn tri thức nuôi dưỡng niềm tin Cách mạng giữa những tháng năm khắc nghiệt nhất.
Ngày trở về từ Côn Đảo sau Cách mạng Tháng Tám thành công cũng là lúc Người bước vào những trọng trách lớn của đất nước. Từ phụ trách kháng chiến Nam Bộ, công tác Mặt trận, Quốc hội, Trung ương Đảng đến Phó Chủ tịch nước và Chủ tịch nước, ở cương vị nào Người cũng giữ phong thái nhất quán: nhận việc khó, hết lòng với việc chung, không màng danh lợi, sống giản dị và gần gũi với Nhân dân.

Cả nước đang hướng tới kỷ niệm 138 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2026)
Năm 1947, được giao đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Người đã xin từ chức, nhường vị trí này lại cho các nhân sĩ yêu nước. Với Bác Tôn, chức vụ chưa bao giờ là đích đến, mà điều quan trọng là việc chung được hoàn thành, đất nước có thêm người gánh vác. Có lẽ vì thế mà khi nhắc đến Bác Tôn, người ta không chỉ nhớ một Chủ tịch nước, mà còn nhớ một người Cộng sản kiên trung, một nhà lãnh đạo mẫu mực, một con người cần, kiệm, liêm, chính, khiêm tốn và giản dị.
Nhưng di sản của Người còn nằm ở giá trị lớn khác: Đại đoàn kết toàn dân tộc. Hơn 30 năm gắn bó với công tác Mặt trận, Người luôn xem đoàn kết là cách quy tụ sức dân và tạo nên sức mạnh chung. Người nhấn mạnh công tác Mặt trận không phải việc riêng của một ngành, mà toàn Đảng phải chăm lo; muốn đoàn kết toàn dân phải bắt đầu từ đoàn kết trong Đảng, phải liên hệ với quần chúng, lắng nghe ý kiến Nhân dân, bàn bạc dân chủ và cùng hướng đến lợi ích chung. Những điều ấy, qua thời gian, vẫn còn nguyên giá trị.
Từ quê hương An Giang, Người tham gia phong trào hòa bình, là Ủy viên Hội đồng Hòa bình Thế giới, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Xô và là người Việt Nam đầu tiên được trao Giải thưởng Stalin vì sự nghiệp củng cố hòa bình, tình hữu nghị giữa các dân tộc. Từ dòng sông Hậu đến biển Đen, từ người CN đến cương vị Chủ tịch nước, hành trình ấy làm nên tầm vóc của một người con An Giang đã dành trọn cuộc đời cho nước, cho dân và cho những giá trị cao đẹp của hòa bình, đoàn kết.
Cù lao Ông Hổ là nơi Tôn Đức Thắng sinh ra, nhưng cuộc đời Người đã đưa tên tuổi quê hương vượt khỏi một địa danh, sáng mãi với những giá trị về tinh thần đoàn kết, trách nhiệm với cộng đồng, trong sự tận tụy với Nhân dân và khát vọng dựng xây quê hương, đất nước.
PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG
Về quê Bác Tôn hôm nay, điều dễ nhận ra không chỉ là những dấu tích được gìn giữ, mà còn là một vùng đất đang tìm cách làm mới những giá trị vốn có của mình. Từ nơi Bác Tôn sinh ra, nhìn rộng ra An Giang hôm nay có thể thấy một vùng quê đang chuyển động với những mục tiêu mới, những không gian phát triển mới và chung một ý chí, quyết tâm: Phát huy truyền thống, đoàn kết, tự lực, tự cường để tiến về phía trước.
Đó cũng là cách thiết thực để học Bác Tôn, bởi di sản của Người không chỉ nằm trong những trang sử hay các hiện vật được gìn giữ tại khu lưu niệm. Di sản ấy còn nằm ở cách một địa phương biết quy tụ lòng dân, biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, biết lắng nghe và biến sự đồng thuận thành sức mạnh phát triển.
An Giang tự hào là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng; Đảng bộ và Nhân dân tỉnh luôn kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, noi gương Bác Tôn, không ngừng đoàn kết, nỗ lực hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ. Tinh thần ấy được đặt trong phương châm “Một An Giang - Một tầm nhìn - Một ý chí - Một niềm tin thắng lợi”.
Ở đây, bài học về đoàn kết mà Bác Tôn để lại càng trở nên gần gũi, đó không chỉ là bài học của một thời kỳ Cách mạng, mà vẫn luôn là phương pháp có ý nghĩa trong xây dựng quê hương hôm nay. Học Bác Tôn không chỉ là nhớ về một cuộc đời, mà là học cách sống có trách nhiệm với công việc chung, biết đoàn kết, biết đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm và biến ý chí thành hành động.
Từ tinh thần ấy, An Giang đang đặt ra những yêu cầu phát triển mới: Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; phát triển văn hóa, con người; đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tăng cường liên kết vùng và hội nhập quốc tế. Mục tiêu đến năm 2030 đưa An Giang trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước đồng thời bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Ở Mỹ Hòa Hưng, ông Tôn Thất Đính - chủ Homestay Ba Đính - đang gìn giữ ngôi nhà sàn cổ hơn 100 năm tuổi ở ấp Mỹ An 2. Qua bao mùa nước nổi, ngôi nhà vẫn đứng đó, giữ nếp kiến trúc và một phần ký ức của miền quê sông nước. Hôm nay, ngôi nhà không chỉ là nơi ở, mà còn trở thành điểm để du khách tìm hiểu về văn hóa và đời sống Nam Bộ. Giữ một ngôi nhà cũ, vì thế cũng là giữ một phần ký ức quê hương.
Còn với Bí thư Đảng ủy xã Mỹ Hòa Hưng - Võ Minh Tuấn, câu chuyện phát triển ở quê hương Bác Tôn phải được đặt trong tầm nhìn dài hơn: tiếp tục gìn giữ các giá trị lịch sử, văn hóa gắn với nâng chất nông thôn mới; phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao; bảo vệ môi trường sinh thái; đồng thời khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng được định hướng trở thành hạt nhân kết nối những giá trị ấy, để câu chuyện về Người không chỉ được kể trong không gian tưởng niệm, mà còn lan tỏa vào đời sống hôm nay. Và rồi, giữa một An Giang đang chuyển mình, những điều Bác Tôn để lại vẫn âm thầm bén rễ, nảy mầm xanh và trở thành sức mạnh đưa quê hương ngày càng đi lên.