Từ Thành phố này Người đã ra đi

Thứ Năm, 02/07/2026 07:14

|

(CATP) Trưa ngày 05/6/1911, từ Bến Nhà Rồng trên sông Sài Gòn, một người thanh niên vừa tròn 21 tuổi, lấy tên Văn Ba, xin làm phụ bếp trên con tàu Amiral Latouche-Tréville, lặng lẽ rời Tổ quốc. Nguyễn Tất Thành ra đi không mang theo hành lý gì ngoài khát vọng giải phóng dân tộc. Chuyến đi lịch sử ấy khởi đầu cho cuộc hành trình 30 năm bôn ba khắp bốn châu lục, để rồi tìm ra con đường giải phóng cho cả dân tộc. Và thành phố nơi Người ra đi - Sài Gòn - cũng chính là miền đất mà suốt cuộc đời, Người đau đáu nhớ thương mà chưa một lần được trở lại.

1. Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, hàng loạt phong trào yêu nước đã nổ ra ở Việt Nam nhằm chống lại sự đô hộ của thực dân Pháp, từ phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, đến phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, nhưng tất cả đều thất bại. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành lớn lên trong hoàn cảnh ấy, sớm chứng kiến cuộc sống khổ cực của Nhân dân dưới ách thống trị thực dân, đồng thời thấy rõ sự bế tắc của con đường mà các bậc tiền bối đã mở ra. Ngưỡng mộ lòng yêu nước của những người đi trước nhưng nhận ra cần phải có một con đường mới, Nguyễn Tất Thành quyết định đi sang phương Tây - chính nơi khởi nguồn của chủ nghĩa thực dân - để tìm hiểu xem điều gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ "Tự do", "Bình đẳng", "Bác ái" mà người Pháp thường rao giảng.

Ngày 05/6/1911, từ Bến Nhà Rồng - cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc, ra đi trên con tàu Amiral Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Ngày 03/6/1911, Nguyễn Tất Thành chính thức nhận thẻ nhân viên trên tàu Amiral Latouche-Tréville với tên mới là Văn Ba. Hai ngày sau, buổi trưa 05/6/1911, con tàu rời bến sông Sài Gòn với 72 thủy thủ, trong đó có một người phụ bếp mang theo khát vọng tìm tự do cho Tổ quốc. Hành trình từ Bến Nhà Rồng năm 1911 đã đưa người thanh niên Nguyễn Tất Thành qua nhiều quốc gia thuộc các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ. Người hòa mình vào cuộc sống lao động, làm đủ mọi nghề - từ phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh đến làm vườn, vẽ thuê...

Khi tàu cập hải cảng Marseille, nơi Nguyễn Tất Thành phát hiện ra điều ngạc nhiên đầu tiên: ngay trên đất Pháp, cũng có những người nghèo khổ như ở Việt Nam. Nhận thức ấy thôi thúc Người tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu và cuối cùng đến được với chủ nghĩa Marx-Lenin. Tại Đại hội Tours năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành Luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp - và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Sau 30 năm bôn ba, năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước tại Pác Bó, Cao Bằng, trực tiếp lãnh đạo Cách mạng. Người mang về con đường giải phóng dân tộc, đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ ngày 25 - 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc (tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian hoạt động Cách mạng ở Pháp) tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours với tư cách đại biểu Đông Dương. Ảnh: Tư liệu TTXVN

2. Nguyễn Tất Thành ra đi từ Sài Gòn - miền Nam. Và suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho miền Nam một tình cảm sâu nặng đến khắc khoải. Ngày 15/6/1957, khi đến thăm đơn vị bộ đội miền Nam tập kết đóng quân tại Rú Đụn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tay lên ngực và xúc động nói với các chiến sĩ Nam Bộ: "Miền Nam trong trái tim tôi". Câu nói ấy là tiếng lòng của một con người suốt đời đau đáu vì nửa phần đất nước chưa được giải phóng.

Tình cảm ấy thể hiện trong từng lời nói, từng việc làm hàng ngày của Người. Bác thường dùng những lời thắm thiết nhất khi nhắc đến miền Nam và trăn trở: "Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên". Năm 1969, khi tiếp nhà báo Marta Rojas của Cuba, Người tâm sự: "Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi".

Cây vú sữa do đồng bào miền Nam gửi tặng được Bác nâng niu, chăm sóc, cho trồng ngay tại nhà sàn nơi Người ở. Mỗi dịp lễ, Tết, điều đầu tiên Bác nghĩ tới là đi thăm các trường con em miền Nam trên đất Bắc. Khi tiếp khách quốc tế, Bác thường kể những chiến công của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, đặc biệt của các cháu thanh niên, nhi đồng và niềm vui khiến nét mặt Người tươi sáng hẳn lên.

Tại Kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa II ngày 08/5/1963, khi Quốc hội có ý định tặng Huân chương Sao Vàng - huân chương cao quý nhất của Nhà nước - Bác đã xin phép chưa nhận, tự xét chưa có công huân xứng đáng, vì miền Nam vẫn chưa được giải phóng. Cũng với tinh thần ấy, năm 1967, Liên Xô quyết định tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh Huân chương Lenin nhân dịp Kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười. Bác đã gửi điện cảm ơn nhưng xin tạm hoãn chưa nhận. Người chia sẻ rằng khi đồng bào miền Nam đang đổ máu chiến đấu, Tổ quốc chưa thống nhất thì lòng Bác không yên để nhận vinh dự này.

Đến ngày Người đi xa, trên ngực vẫn không một tấm huân chương.

Bức tranh "Chủ tịch Hồ Chí Minh với các Anh hùng dũng sĩ miền Nam năm 1965" của tác giả Võ Văn Vinh. Ảnh: Báo ảnh Việt Nam

3. Một trong những sự thật xúc động nhất trong cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh: kể từ ngày rời Bến Nhà Rồng năm 1911, Người chưa lần nào được trở về thăm lại miền Nam và đồng bào Nam Bộ. Với Người, nỗi lo lớn nhất trong cuộc đời chính là miền Nam chưa được giải phóng, nước nhà chưa được thống nhất. Trong những năm cuối đời, dù sức khỏe suy giảm, Bác vẫn tập đi bộ, tập leo dốc. Bác muốn rèn luyện sức khỏe để "vào miền Nam với đồng bào, đồng chí”. Từ năm 1968 trở đi, Bác yêu cầu hễ có đồng chí miền Nam nào ra Bắc thì phải cho Bác biết và đưa vào gặp Bác.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người viết: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta". Ý nguyện ấy - đi khắp hai miền để gặp đồng bào trong ngày vui thống nhất - Người đã không kịp thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời khi miền Nam vẫn chìm trong bom đạn chiến tranh.

Sáu năm sau ngày Bác đi xa, đáp lại tình cảm và ý nguyện thiêng liêng của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã chiến đấu kiên cường. Chiến dịch Hồ Chí Minh - kết thúc toàn thắng vào 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975, khi lá cờ Cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Bác đã không kịp trở lại Sài Gòn, nhưng chiến thắng của dân tộc mang chính tên Người.

Ngày 02/7/1976, thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt sâu sắc. Thành phố nơi Người bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước 65 năm trước, thành phố mà Người nhớ thương suốt đời nhưng chưa kịp trở lại, nay vinh dự mang tên Người.

Sau 50 năm ngày mang tên Người, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thực hiện khát vọng mà Bác căn dặn trong Di chúc: "Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp Cách mạng thế giới". Từ nơi Người ra đi, thành phố tiếp tục "vì cả nước, cùng cả nước" vươn lên trong kỷ nguyên mới - để xứng đáng với tên gọi thiêng liêng và xứng đáng với tình yêu suốt đời mà Người dành cho miền Nam.

Bình luận (0)

Lên đầu trang