Những đóng góp quan trọng của nhà bác học Lê Quý Đôn cho đất nước

Thứ Bảy, 25/07/2026 08:51

|

(CAO) ​Năm 2026 đánh dấu tròn 300 năm ngày sinh của danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 1784), một trong những nhà bác học lỗi lạc nhất lịch sử Việt Nam thời phong kiến. UNESCO đã chính thức thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng Việt Nam tổ chức kỷ niệm sự kiện này tại Kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 43 (tháng 10/2025 tại Samarkand, Uzbekistan). Đây là dịp để thế hệ hôm nay ôn lại cuộc đời, sự nghiệp và di sản đồ sộ của ông - biểu tượng của trí tuệ, lòng yêu nước và tinh thần học hỏi không ngừng.

Sơ lược hành trạng Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn, tên thật là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày 2/8/1726 tại làng Diên Hà (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ông xuất thân từ gia đình khoa bảng, cha là Lê Phú Thứ (sau đổi Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm 1721, làm quan đến Thượng thư bộ Hình. Từ thuở ấu thơ, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thần đồng: 5 tuổi đọc thông Kinh Thi, 12 tuổi thông Tuệ kinh truyện, Bách gia chư tử... Ông đọc sách nhanh "nhất mục thập hàng" (một mắt nhìn qua mười hàng chữ), trí nhớ phi thường. Năm 26 tuổi (1752), ông đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, mở đầu sự nghiệp quan trường xuất sắc dưới thời Hậu Lê – chúa Trịnh.

Cuộc đời Lê Quý Đôn gắn bó với thời kỳ phân tranh Trịnh – Nguyễn, đất nước chia cắt. Ông làm quan trải nhiều chức vụ: Hàn lâm viện, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Hiệp trấn Thái Nguyên, rồi sứ thần sang nhà Thanh (1760 - 1762). Chuyến đi sứ Trung Quốc là minh chứng cho tài ngoại giao và bản lĩnh dân tộc: ông tranh luận sắc bén, bảo vệ vị thế Đại Việt, ghi chép chi tiết trong Bắc sứ thông lục. Sau đó, ông tham gia chấn chỉnh hành chính miền Nam (Thuận Hóa – Quảng Nam), biên soạn Phủ biên tạp lục – tài liệu quý về địa lý, phong tục vùng đất Nguyễn. Dù thăng trầm (từng bị giáng chức), ông luôn trung thực, thanh liêm, dâng sớ can gián chúa Trịnh về cải cách nông chính, giảm thuế, chống tham nhũng…

Chân dung phác họa nhà bác học Lê Quý Đôn 

Những đóng góp ở di sản học thuật của Lê Quý Đôn

Đóng góp vĩ đại nhất của Lê Quý Đôn nằm ở di sản học thuật đồ sộ, ước tính hơn 40 bộ sách với hàng trăm quyển, bao quát hầu hết lĩnh vực tri thức thời bấy giờ. Ông được mệnh danh "túi khôn của thời đại", nhà bác học toàn năng. Tác phẩm tiêu biểu:

- Vân đài loại ngữ (9 quyển, năm 1773): Bách khoa toàn thư lớn nhất Việt Nam thời phong kiến, tổng hợp kiến thức thiên văn, địa lý, lịch sử, nông nghiệp, phong tục.

- Phủ biên tạp lục (6 quyển): Mô tả chi tiết vùng đất miền Nam, sản vật, dân cư, góp phần khẳng định chủ quyền.

- Kiến văn tiểu lục (12 quyển): Bút ký về lịch sử, văn hóa từ đời Trần đến Lê.

- Đại Việt thông sử (30 quyển): Bộ sử quý về triều Lê.

- Các bộ thơ văn như Toàn Việt thi lục, Quế Đường thi tập…, cùng nhiều chú giải kinh điển.

Vân đài loại ngữ, bộ bách khoa có giá trị bậc nhất thời phong kiến

Vân đài loại ngữ là một tác phẩm kinh điển viết bằng chữ Hán, được Lê Quý Đôn biên soạn vào năm 1773. Tên sách mang ý nghĩa sâu sắc: "Vân đài" chỉ đài chứa sách quý (có dùng vân hương – một loại hoa chống mọt để bảo quản sách lâu dài), "loại ngữ" nghĩa là những lời nói, câu chuyện được sắp xếp theo môn loại (phân loại). Do đó, có thể hiểu tên sách là "Những lời nói phân loại từ Vân đài" hoặc "Thư viện phân loại ngôn từ", tương đương với một bộ bách khoa toàn thư (encyclopedia) theo kiểu phương Đông.

Bộ sách được chia thành 9 quyển (hoặc 9 chuyên mục lớn), tập hợp kiến thức đa dạng từ triết học, khoa học tự nhiên, văn học, lịch sử, phong tục, đến các lĩnh vực thực tiễn. Nội dung không sắp xếp theo thứ tự chữ cái mà theo môn loại (phân loại chủ đề), giúp dễ tra cứu và hệ thống hóa tri thức. Trong bộ này, quyển 1 về Lý khí ngữ nói về lý khí (âm dương, ngũ hành), bản thể luận, trời đất, con người, vật chất; liên quan đến triết học tự nhiên, y học, bói toán, phong thủy. Các quyển khác bao quát văn học, sử học, địa lý, phong tục, lễ nghi, chính trị, đạo đức, khoa học tự nhiên (thiên văn, địa lý, động thực vật), vạn vật học, và các nhận xét về sách vở cổ kim. Về tổng thể, sách dẫn chứng rộng từ sách cổ Trung Quốc (Kinh Thi, Kinh Thư, Tứ thư, Ngũ kinh, các sách Tống Nho…), kết hợp dẫn việc xưa chứng việc nay, bình luận về văn chương, sự vật, phong thổ, nhân tình thế thái.

Tác phẩm chịu ảnh hưởng lớn từ tư tưởng Tống Nho (Chu Hi, Trình Di), nhưng Lê Quý Đôn đã Việt hóa và bổ sung nhiều kiến thức thực tiễn Việt Nam, tạo nên sự tổng hợp độc đáo giữa Nho giáo truyền thống và tri thức thực nghiệm.

Vân đài loại ngữ được đánh giá là bộ từ điển bách khoa đầu tiên của Việt Nam, thể hiện đỉnh cao tri thức khoa học - văn hóa Việt Nam thế kỷ XVIII. Các giá trị nổi bật ở tri thức tổng hợp, bởi đã tập hợp kiến thức rộng lớn về văn học, triết học, khoa học tự nhiên, lịch sử, phong tục, địa lý... trong một bộ sách duy nhất, là kho tàng quý giá để nghiên cứu tư tưởng, học thuật, phương pháp suy luận, nhận xét của người xưa (từ thế kỷ XVIII về trước).

Một ấn bản của Vân đài loại ngữ đã được phát hành.

Sách cũng có giá trị văn hóa - lịch sử, bởi đã phản ánh trình độ học thuật cao của trí thức Việt Nam thời Lê - Trịnh, cho thấy sự tiếp thu tinh hoa văn hóa Trung Hoa nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc. Công trình đã giới thiệu đầy đủ tinh hoa văn hóa Việt Nam. Học giả Phan Huy Chú (1782 – 1840) sau này đã nhận xét: "Sách bình luận về các loại văn chương, sự vật, phong thổ đã nói trong sách cổ kim, dẫn việc xưa, chứng việc nay, lời văn rất là bao quát".

Đồng thời, sách có giá trị khoa học và học thuật, là đỉnh cao tri thức khoa học Việt Nam thế kỷ XVIII, với cách tiếp cận logic, dẫn chứng phong phú, bình luận sâu sắc. Nhờ đó, đã đóng góp vào bản thể luận, triết học tự nhiên và các lĩnh vực như y học, thiên văn, địa lý. Đến nay vẫn là nguồn tài liệu quan trọng cho nghiên cứu lịch sử tư tưởng, văn hóa Việt Nam; sách có thể cung cấp nhiều kiến thức đa dạng, giúp hậu thế hiểu rõ hơn về tư duy, phong tục, xã hội Việt Nam xưa. Chính vì thế, công trình này là minh chứng cho tinh thần hiếu học, uyên bác của Lê Quý Đôn – một trong những nhà bác học lớn nhất lịch sử Việt Nam.

Có thể nói, Vân đài loại ngữ không chỉ là một bộ sách học thuật mà còn là di sản văn hóa quý báu, xứng đáng được mệnh danh là bách khoa toàn thư Việt Nam đầu tiên, đồng thời là bộ bách khoa toàn thư có giá trị bậc nhất thời phong kiến. Ngày nay, đọc bộ sách này, chúng ta không chỉ thu thập kiến thức mà còn cảm nhận được chiều sâu trí tuệ và tinh thần cầu tiến của cha ông. Di sản này không chỉ lưu giữ tri thức mà còn thể hiện tư tưởng tiến bộ: trọng nông, khuyến học, tự hào dân tộc. Ông có câu nói nổi tiếng: "Dẫu cho bạc vàng trăm vạn lạng/Không bằng kinh sử một vài pho", nhấn mạnh giá trị học vấn.

Khu lưu niệm nhà bác học, Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ảnh: Tất Đạt

Lê Quý Đôn mất ngày 11/6/1784 tại quê nhà, hưởng thọ 58 tuổi. Hậu thế tôn vinh ông qua khu lưu niệm tại Thái Bình (nay thuộc Hưng Yên); có rất nhiều trường học mang tên ông và trong số đó có không ít trường thuộc hàng danh tiếng bậc nhất địa phương. Điều đó càng có ý nghĩa vinh danh ông, bởi những đóng góp đặc biệt của ông đối với nền học thuật nước nhà, cũng như sự xuất chúng của ông trong vai trò một trí thức.

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, sử gia Phan Huy Chú đã nhận xét: "Lê Quý Ðôn tư chất khác đời, thông minh hơn người... Bình sinh làm sách rất nhiều, khi bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi; mà nói đến điển cố thì đầy đủ, rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời". Các đánh giá ấy sau hơn 200 năm vẫn còn nguyên giá trị. Kỷ niệm 300 năm ngày sinh là cơ hội để Việt Nam và UNESCO lan tỏa giá trị di sản ông: tinh thần hiếu học, sáng tạo, yêu nước. Trong thời đại hội nhập, noi gương Lê Quý Đôn giúp thế hệ trẻ rèn luyện trí tuệ, đóng góp xây dựng đất nước phồn vinh.

Bình luận (0)

Lên đầu trang