Côn Đảo - trường học Cách mạng của dân tộc Việt Nam:

Kỳ cuối: Trau dồi tri thức, thêm sức mạnh chiến thắng kẻ thù

Thứ Sáu, 17/04/2026 09:47

|

(CATP) Thời Mỹ - Ngụy, tù chính trị tổ chức học tập văn hóa, lý luận trong những điều kiện rất khắc nghiệt. Bọn gác ngục giám sát chặt chẽ các hoạt động của tù nhân, đặc biệt là ở các trại tù cấm cố. Quy chế nhà tù cấm tù nhân liên hệ với nhau dưới mọi hình thức, cấm tàng trữ bất cứ thứ gì không phải do nhà tù cấp phát.

Học văn hóa - chính trị trong nhà tù đế quốc

Trong những năm 1957 - 1959, địch cấm cố những người tù chính trị chống ly khai cộng sản tại Trại I - chúng gọi là Trại cộng sản và kiểm soát chặt chẽ, người tù hoàn toàn bị cách biệt với thế giới bên ngoài. Nhốt chật, đóng cửa suốt ngày, bớt cơm, bớt nước uống, không cho nước tắm, ốm đau không thuốc... Hàng trăm người đã chết thê thảm vì bệnh tật, không được chữa trị. Trong điều kiện đó, tù chính trị Trại I đã tổ chức học tập chính trị, nâng cao lập trường tư tưởng và dũng khí cách mạng cho anh chị em. Tài liệu học tập do những người có trách nhiệm nhớ lại và phổ biến gồm: Dũng khí cách mạng qua tấm gương của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai... học tập tinh thần đấu tranh trong tù của các thế hệ tiền bối qua thơ Tố Hữu, học Kinh nhật tụng của người chiến sĩ, xem đó là tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ Cách mạng trong tù.

Từ năm 1958, anh em học Chỉ thị Bảo vệ khí tiết do Liên chi ủy Nhà lao Gia Định khởi thảo, đã được các đồng chí mới lưu đày ra phổ biến và tài liệu về Đường lối cách mạng Miền Nam. Cách học là phổ biến, truyền miệng trong từng phòng giam. Đây là những nội dung sinh hoạt tư tưởng thường xuyên để nâng cao ý chí đấu tranh của tập thể tù chính trị.

Tập san Sinh hoạt và Xây dựng cùng hình ảnh một số ấn phẩm báo chí phát hành trong nhà tù Côn Đảo

Ở các Trại tù khổ sai (tù có án và tù chính trị câu lưu đã chịu điều kiện của địch), sinh hoạt có đỡ phần khắc nghiệt hơn. Đi làm khổ sai tuy có nặng nhọc nhưng sinh hoạt thoải mái hơn là chế độ cấm cố: được viết thư về nhà, được nhận đồ tiếp tế, được nhận sách báo, được học văn hóa, chỉ cấm các tài liệu chính trị liên quan đến tuyên truyền tư tưởng cộng sản. Nhiều người đã nhờ gia đình mua các loại sách văn hóa gửi ra để học tập. Hình thức chủ yếu là tự học vì nội quy nhà tù cấm tụ tập từ 3 người trở lên, trừ những buổi chúng tập trung học tố cộng.

Từ năm 1963, các anh Trương Minh (Hai Khuynh), nguyên cán bộ binh vận Trung ương Cục, Nguyễn Xuân Ký (Tám Ký), nguyên Tỉnh ủy viên Mỹ Tho từ Chí Hòa bị đày ra Côn Đảo đã chắp nối liên lạc với Trung ương Cục, nhờ đó có được những tài liệu về tình hình cách mạng Miền Nam cũng như những định hướng của Trung ương Cục chỉ đạo đấu tranh trong tù, làm tài liệu sinh hoạt chính trị tư tưởng. Được chuyển ra làm lao công ở Sở Chăn Nuôi, Trương Minh (Hai Khuynh) nhờ cơ sở ở Sài Gòn mua các loại sách văn - sử, từ điển tiếng Anh, tiếng Hoa để tự học và nghiên cứu, biên soạn bộ từ điển Hán - Việt (13.000 mục từ) gửi về đất liền. Đây là một hình thức tự học và cũng để ngụy trang cho việc liên lạc về Sài Gòn. Nhiều báo cáo đã được viết bằng nước cơm theo mật mã quy ước và gửi qua những trang bản thảo này.

Anh Võ Văn Thuật (Tư Thuật) nguyên Tỉnh ủy viên Sài Gòn - Gia Định học tiếng Hoa rất kiên trì, bền bỉ. Ngày nào cũng vậy, sau giờ làm khổ sai là anh học thuộc đủ 50 từ rồi mới vê một điếu thuốc rê hút cho đã cơn nghiền. Anh tóp má lại rít điếu thuốc cháy đỏ trên môi rồi phùng mang, từ từ nhả khói, mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà. Ít người ngờ rằng, những phút giây khoan khoái giải cơn nghiền của một anh nông dân hiền như đất vừa học xong bài lại đang suy tính một việc động trời. Anh là người chỉ huy cao nhất của cuộc võ trang giải thoát. Trong chuyến dọn tàu ngày 27/02/1965, Tư Thuật cùng Nguyễn Văn Đạn (Ba Thọ), nguyên Huyện ủy viên Bình Chánh, Sài Gòn - Gia Định; Nguyễn Kế Hoa, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa (1955) và một số cốt cán ở Sở Lưới đã chỉ huy 57 tù chính trị võ trang, đánh chiếm tàu Thương Cảng Sài Gòn TCS-131, bắt sống hơn 50 tù binh, cướp ca nô mang tên Cần Thơ - Sóc Trăng của Sở Lưới, vượt biển về Cà Mau tham gia kháng chiến.

Hình ảnh liên hoàn trên tờ báo Xây Dựng tại nhà tù Côn Đảo

Đối với những người tù chính trị bị cấm cố (chống ly khai, chống chào cờ ngụy, chống nội quy nhà tù) thì việc học tập khó khăn hơn nhiều. Một mảnh giấy trắng, một mẩu sách báo đem vào khám phải giấu diếm rất khó khăn. Một công thức toán học viết lén trên các vật dụng hàng ngày để truyền cho nhau có khi phải đổ máu nếu địch phát hiện được. Vậy nhưng họ vẫn không ngừng học tập, ngay cả khi bị biệt giam mỗi người một gian xà lim, chuồng cọp, họ cũng gõ moọc qua tường để liên hệ, gửi bài cho nhau. Khi địch khủng bố, bớt cơm, cúp nước, không cho đổ thùng cầu, phải xỏ chân trong còng, tiểu tiện tại chỗ, họ vẫn học. Học để trau dồi tri thức, học để lạc quan Cách mạng, tăng thêm sức mạnh và chiến thắng kẻ thù; học để có cơ hội trở về phục vụ Cách mạng, phục vụ Nhân dân. Đó là phẩm chất của những người mang chí lớn, đáng nêu gương cho thế hệ đời sau.

Nuôi chí lớn phục vụ cách mạng

Từ năm 1965, tù chính trị bị biệt giam ở Chuồng Cọp đã xây dựng một quy ước mật mã bằng hệ thống moọc (morse) gõ qua tường để liên lạc với nhau và trao đổi tài liệu học tập chính trị; trao đổi thông tin, thống nhất chủ trương tranh đấu, chuyển đạt ý kiến chỉ đạo của Trung ương Cục, trao đổi với nhau tài liệu học tập văn hóa, ngoại ngữ và các đề tài yêu thích.

Theo một nguồn tin mật báo, Ban An ninh Trung tâm Cải huấn I đã trình Quản đốc nhà tù một bản báo cáo có nội dung như sau: "Tù nhân Trại I định kỳ liên lạc bằng moọc với nhau vào thời điểm sau bữa ăn trưa và sau bữa ăn chiều. Khi có chuyện đột xuất, họ có thể liên lạc vào giờ bất kỳ, trừ buổi tối. Nguồn tin mật báo cho biết, từ chuồng 55, Lê Mạnh Tiến dùng moọc truyền qua chuồng 49 Tám kinh nghiệm chiến đấu của Năm Anh. Lê Mạnh Tiến cùng Trần Văn Hương, Lê Văn Đức học toán và Pháp văn, sau đó Nguyễn Tấn Hiệp và Võ Ái Dân đến, phổ biến tài liệu Tri thức cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin". Lê Mạnh Tiến từ khi ở nhà lao Chí Hòa đã được học Chỉ thị bảo vệ khí tiết, Tám kinh nghiệm chiến đấu của Năm Anh. Ra Côn Đảo, Tiến sử dụng moọc gõ qua tường thông tin cho các bạn tù ở chuồng bên.

Dù bị đàn áp và lao động khổ sai, những người tù Cách mạng vẫn say sưa học tập

Một bản báo cáo khác của Ban An ninh Trung tâm Cải huấn I cho biết: "Năm 1965, tại chuồng 26 (Chuồng Cọp), nhóm tù nhân lao phổi nặng gồm Phan Công Phú, Lê Quyết Chiến, Hồ Thạnh đã tổ chức kiểm điểm kế hoạch đấu tranh và học lý luận Duy vật lịch sử. Phan Công Phú thuyết trình bài Lao động sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Những tù nhân này bệnh nặng, sức yếu, nằm học, lúc nào mệt quá, đau ngực, khó thở thì nghỉ”.

Bản báo cáo đã dẫn cho biết chương trình Tri thức cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin phần Duy vật Biện chứng. Chương trình huấn luyện do anh Trần Ngọc Tự, cán bộ quân báo, nguyên là giảng viên chính trị Trường sĩ quan Lục quân bị đày ra đảo truyền bá cho anh em trong từng Chuồng Cọp, từng nhóm tù rồi lan rộng ảnh hưởng đến toàn Trại I, Trại IV, Chuồng Cọp trong lực lượng tù chính trị câu lưu. Nhiều kiến thức trong đó đã được tù chính trị vận dụng nhuần nhuyễn vào việc tổ chức và tranh đấu trong tù.

Ngày 03/02/1972, lực lượng tù chính trị câu lưu Trại VI khu B đã thành lập Đảng bộ mang tên Lưu Chí Hiếu, Đảng ủy gồm: Trần Văn Cao là Bí thư phụ trách chung, kiêm công tác tổ chức; Đào Văn Trân, Phó Bí thư phụ trách dân vận mặt trận; Mai Xuân Cống, Thường vụ, Trưởng ban điều hành trại; Trịnh Văn Tư (Tư Lâu, Tư Cẩn), ủy viên phụ trách tuyên huấn; Nguyễn Văn Vui, ủy viên cùng với Đào Văn Trân phụ trách mặt trận; Hoàng Phùng, ủy viên, Phó Ban điều hành trại kiêm Tổng đại diện; Phạm Xuân Minh (Phạm Huy Tưởng), ủy viên phụ trách công tác thanh niên. Đảng bộ xây dựng 10 chi bộ trong 10 phòng của Trại VI khu B, mỗi chi bộ từ 5 - 10 đảng viên, tổng số 62 đảng viên được kết tập vào cuối năm 1972.

Đảng bộ xác định rõ nhiệm vụ là lãnh đạo toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hoạt động và tranh đấu của lực lượng tù chính trị câu lưu. Đảng bộ ra tập san của toàn trại, lấy tên là Xây Dựng, do Nguyễn Đằng (tức Lê Tú) làm Tổng biên tập. Tập san Xây Dựng ra được 10 số thì ngưng do tình hình biến động. Một số phòng cũng chủ động ra báo trong từng phòng, như tờ Đoàn Kết, tờ Văn Nghệ...

Đảng bộ tăng cường công tác học tập chính trị tư tưởng. Ban tuyên huấn soạn thảo nhiều tài liệu học tập như: Chương trình lý luận cao cấp; Tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay; Nhận định về âm mưu của kẻ thù; Năm bước công tác cách mạng... Trong các đợt sinh hoạt, Đảng bộ thường xuyên giáo dục truyền thống đấu tranh của tù nhân Côn Đảo và những tấm gương kiên cường bất khuất trong tù như Lưu Chí Hiếu, Trần Trung Tín, Cao Văn Ngọc, tấm gương 5 anh chống ly khai toàn thắng.

Những bài học chính trị do lãnh đạo Đảng bộ và chi bộ ở các phòng trực tiếp giảng dạy. Lớp học tập trung được tổ chức trong những giờ tắm nắng chỉ học kiến thức cơ bản, sau đó về phòng thảo luận tổ để hôm sau giải đáp thắc mắc.

Anh em tù chính trị còn được bố trí học các lớp toán, lớp ngoại ngữ. Phụ trách dạy các môn văn hóa là những tù chính trị từng là sinh viên các trường đại học ở Sài Gòn đảm nhiệm. Chuyên dạy môn toán có các thầy Huỳnh Hùng Đước, Hoàng Văn Nghiêm, Lê Minh Sang. Huỳnh Hùng Đước vốn là sinh viên năm thứ 3 của Đại học Khoa học bị địch bắt tù ở Côn Đảo. Thầy Võ Trung Tánh dạy toán kiêm dạy tiếng Pháp. Thầy Hoàng Văn Nghiêm còn có hoa tay của một họa sĩ, là người trang trí họa sĩ cho tờ báo "Xây Dựng" của Đảng bộ Lao 6B được anh em khen ngợi.

Những thầy giáo và học viên tại các lớp học sau song sắt đều trưởng thành. Nhiều anh em kiên trì tự học trong tù cũng là những anh em thường xuyên rèn luyện tư tưởng, lập trường, tư cách và ý chí đấu tranh, sau ngày giải phóng (1975) đã học lên đại học và đảm nhiệm những công tác quan trọng của Đảng và Nhà nước.

Kỳ 7: Chữ quốc ngữ sáng bừng giữa ngục tù tăm tối
 

Bình luận (0)

Lên đầu trang