Ngày 17/6/2026, Công an TP.Hà Nội công bố khởi tố 187 người trong vụ án lừa đảo "mua bán kỳ nghỉ” - con số lớn nhất từ trước đến nay trong một vụ án đơn lẻ liên quan mô hình này tại Việt Nam. Chỉ vài ngày trước đó, Bộ Công an phát cảnh báo chính thức trên toàn quốc về các tổ chức, cá nhân lợi dụng "hợp đồng kỳ nghỉ” để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Từ mô hình hợp pháp và hữu ích
Trên thế giới, lừa đảo "sở hữu kỳ nghỉ” đã trở thành một dạng tội phạm xuyên biên giới có tổ chức, buộc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI), Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC), cơ quan công tố các nước phải vào cuộc ở quy mô chưa từng có. Tại Anh, đường dây Sell My Timeshare vừa bị kết án sau khi lừa 3.583 nạn nhân, chiếm đoạt gần 1.000 tỷ đồng. Tại Mỹ, khoảng 6.000 người mất gần 300 triệu USD chỉ trong vòng 4 năm vì các đường dây lừa đảo timeshare liên quan băng đảng ma túy Mexico.

Cảnh báo hợp đồng timeshare (ảnh minh họa)
Năm 1963, tại Thụy Sĩ, một ý tưởng kinh doanh đơn giản được khai sinh. Thay vì một người bỏ tiền mua trọn một căn biệt thự nghỉ dưỡng rồi chỉ sử dụng vài tuần mỗi năm, nhiều người cùng góp tiền mua quyền sử dụng chung, mỗi người dùng trong một khoảng thời gian riêng. Họ không sở hữu cả căn nhà, chỉ sở hữu "thời gian được ở đó”. Mô hình này được gọi là "sở hữu kỳ nghỉ”. Từ Thụy Sĩ, timeshare lan nhanh sang Mỹ và toàn Châu Âu, trở thành một ngành công nghiệp nghỉ dưỡng phổ biến suốt hơn sáu thập kỷ tính đến hiện tại.
Về lý thuyết, đây là mô hình có logic rõ ràng. Việc chia nhỏ quyền sử dụng bất động sản theo thời gian giúp tối ưu hóa hiệu suất khai thác tài sản, giảm chi phí cho từng người dùng, đồng thời tạo nguồn doanh thu ổn định cho chủ đầu tư. Riêng tại Anh, gần 500.000 hộ gia đình sở hữu timeshare. Hơn một phần ba tổng số người sở hữu timeshare trên thế giới ở tại Mỹ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Úc, chiếm khoảng 21% thị trường toàn cầu và đang mở rộng nhanh. Thế nhưng chính quy mô khổng lồ đó lại biến timeshare thành mảnh đất màu mỡ cho tội phạm lừa đảo. Và khi mô hình này du nhập vào Việt Nam, nó không phát triển như một cơ chế chia sẻ quyền sở hữu bất động sản nghỉ dưỡng đúng bản chất ban đầu, mà đa phần bị biến tướng thành công cụ chiếm đoạt tài sản nhắm thẳng vào những người già cả, nhẹ dạ cả tin.

Quảng cáo timeshare trên mạng xã hội (ảnh minh họa)
Đến trở thành công cụ lừa đảo
Lừa đảo timeshare là một dạng tội phạm xuyên biên giới, có tổ chức, đã buộc các cơ quan thực thi pháp luật phải vào cuộc ở quy mô lớn. FTC từng phối hợp với 28 bang và cơ quan thực thi pháp luật 10 quốc gia để triển khai 191 hành động pháp lý chỉ nhằm xử lý lừa đảo liên quan timeshare, với hơn 184 cá nhân đối mặt truy tố hình sự. FBI ghi nhận riêng trong năm 2024, họ nhận gần 900 đơn khiếu nại về lừa đảo timeshare có nguồn gốc từ Mexico, thiệt hại được báo cáo hơn 50 triệu USD. Tổng cộng trong giai đoạn 2019 - 2023, khoảng 6.000 nạn nhân tại Mỹ báo cáo mất gần 300 triệu USD vì các đường dây lừa đảo timeshare hoạt động từ Mexico.
Tại Anh, vụ án lớn nhất thuộc loại hình này vừa khép lại sau bốn phiên tòa kéo dài hai năm tại Tòa án Southwark Crown. Đường dây Sell My Timeshare do Mark Rowe điều hành, có văn phòng tại Anh và Tenerife (Tây Ban Nha), đã lừa 3.583 nạn nhân - phần lớn ở độ tuổi 60 đến 80, có người trên 90 - chiếm đoạt tổng cộng 28,1 triệu bảng Anh, tương đương khoảng 987 tỷ đồng. Sau sáu năm điều tra, phân tích hơn 5,5 triệu cuộc gọi, Mark Rowe bị kết án 7 năm rưỡi tù vào tháng 01/2025 về tội âm mưu lừa đảo. Tổng cộng 14 bị cáo trong đường dây bị kết án.
Điểm chung của tất cả các vụ án trên thế giới là nạn nhân luôn là người cao tuổi, và thủ đoạn lừa đảo luôn xoay quanh hai trục: hoặc bán cho họ một sản phẩm kỳ nghỉ không có thật, hoặc hứa giúp họ thoát khỏi hợp đồng timeshare cũ rồi dụ dỗ đóng thêm tiền vào các gói dịch vụ vô giá trị.

Gần 200 đối tượng bị Công an TP.Hà Nội công bố khởi tố trong vụ án lừa đảo "mua bán kỳ nghỉ”
Du nhập vào Việt Nam và biến tướng
Khi mô hình timeshare vào Việt Nam, nó không đi theo con đường phát triển bài bản như ở Châu Âu hay Bắc Mỹ. Thay vì chia sẻ quyền sở hữu bất động sản nghỉ dưỡng đúng nghĩa, nhiều doanh nghiệp thương mại hóa nó thành các gói "sở hữu kỳ nghỉ” dài hạn. Nhân viên kinh doanh bám riết lấy người mua, hút cho đến lúc họ cạn tiền, đúng bản chất lừa đảo.
Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng lừa đảo timeshare tại Việt Nam phức tạp là khoảng trống pháp lý. Nhiều cam kết về việc cho thuê lại hoặc tạo lợi nhuận không được ghi nhận dưới dạng nghĩa vụ bắt buộc trong hợp đồng, nên khi xảy ra tranh chấp, người mua thường rơi vào thế bất lợi nếu khởi kiện theo thủ tục dân sự.
Tại Đà Nẵng, nhiều người dân phản ánh bị các công ty kinh doanh "sở hữu kỳ nghỉ” tư vấn sai sự thật, cam kết lợi nhuận cao nhưng không thực hiện đúng nội dung hợp đồng. Khi khách hàng cố sử dụng quyền nghỉ dưỡng, họ thường bị báo "hết phòng" hoặc "vào mùa cao điểm", trong khi kiểm tra trên các ứng dụng đặt phòng khác vẫn còn chỗ trống.
Giữa lúc dư luận đang sôi sục, cơ quan Công an chính thức vào cuộc xử lý hình sự. Ngày 17/6/2026, Công an TP.Hà Nội công bố kết quả bước đầu trong vụ án lừa đảo liên quan mô hình "mua bán kỳ nghỉ”: 187 người bị khởi tố. Theo thông tin từ Công an TP.Hà Nội, các nghi phạm chủ yếu thực hiện hai hình thức lừa đảo. Hình thức thứ nhất là bán kỳ nghỉ - dụ dỗ người dân mua các gói nghỉ dưỡng không có thật. Hình thức thứ hai là chuyển nhượng kỳ nghỉ - hứa giúp khách hàng bán lại thẻ kỳ nghỉ với giá cao. Cả hai hình thức đều nhằm mục đích chiếm đoạt tiền. Trên thực tế, các công ty trong đường dây này không bán, không chuyển nhượng, cũng không cho thuê kỳ nghỉ cho bất kỳ khách hàng nào, toàn bộ giao dịch là giả mạo.
Nạn nhân mà nhóm này nhắm đến chủ yếu là người già - nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, cũng là nhóm nạn nhân đặc trưng của lừa đảo timeshare trên toàn thế giới. Họ bị dụ dỗ bằng hứa hẹn có thể bán lại thẻ kỳ nghỉ với giá cao, tức là lợi nhuận, là cơ hội đầu tư an toàn cho tuổi xế chiều. Đáng chú ý, nhiều công ty trong đường dây đã lập hẳn một "hệ sinh thái" - tức nhiều công ty con, công ty liên kết hoạt động phối hợp - để tạo vòng tròn khép kín. Khi nạn nhân muốn thoát ra khỏi hợp đồng ở công ty A, họ được giới thiệu sang công ty B với lời hứa "hỗ trợ chuyển nhượng" hoặc "thu mua lại", rồi lại bị yêu cầu đóng thêm tiền. Vòng tròn cứ thế tiếp diễn, khiến nạn nhân càng cố thoát ra thì càng bị kéo sâu hơn.
Thủ đoạn phổ biến của nhóm lừa đảo được mô tả cụ thể như sau: đối tượng gọi điện mời chào, hứa tặng voucher du lịch miễn phí, mời người dân tham dự hội thảo tại các khách sạn, resort cao cấp. Tại đó, họ được giới thiệu các gói kỳ nghỉ dưỡng với những lời quảng cáo hấp dẫn như "kỳ nghỉ 5 sao", "nghỉ dưỡng sang trọng", "ưu đãi đặc biệt", "chỉ còn vài suất" hoặc "chỉ áp dụng trong hôm nay". Gói kỳ nghỉ được giới thiệu với giá rẻ, thời hạn sử dụng nhiều năm, kèm hứa hẹn chuyển nhượng dễ dàng hoặc sinh lời. Sau khi người dân đã bị cuốn vào không khí sự kiện và những lời hứa hấp dẫn, các đối tượng dùng nhiều thủ đoạn tạo áp lực, buộc khách hàng ký hợp đồng và thanh toán ngay số tiền lớn.
Vụ khởi tố 187 người tại Hà Nội mới chỉ là "kết quả đấu tranh bước đầu" - tức là quá trình điều tra vẫn đang tiếp tục và có thể mở rộng. Con số 187 nghi phạm trong một vụ án duy nhất đã cho thấy quy mô tổ chức của loại hình tội phạm này tại Việt Nam và cho thấy cơ quan chức năng đã chính thức chuyển hướng từ xử lý hành chính, dân sự sang truy cứu trách nhiệm hình sự.
(Còn tiếp...)