Logistics đường thủy thông minh
Sông Sài Gòn gắn với lịch sử hình thành Thành phố, hoạt động giao thương, hệ thống cảng, các khu công nghiệp và mạng lưới đô thị. Dòng sông đồng thời mang những giá trị sinh thái, cảnh quan, văn hóa và không gian sống. Đây là những lợi thế quan trọng, nhưng bản thân lợi thế tự nhiên chưa tự động tạo ra giá trị kinh tế. Giá trị chỉ hình thành khi những nguồn lực ấy được kết nối với nhu cầu thực tế, có tổ chức vận hành phù hợp, có doanh nghiệp tham gia và tạo ra sản phẩm, dịch vụ được thị trường chấp nhận.
Trong nhiều năm, phát triển ven sông thường được tiếp cận thông qua chỉnh trang cảnh quan, xây dựng công viên, khai thác du lịch, phát triển bất động sản và đầu tư các công trình hạ tầng. Những chức năng này đều có vai trò riêng. Tuy nhiên, nếu phần lớn nguồn lực chỉ tập trung vào việc xây dựng công trình và gia tăng giá trị đất đai, thành phố có thể cải thiện diện mạo đô thị mà chưa chắc tạo được những năng lực kinh tế mới có khả năng lan tỏa rộng hơn.

Sông Sài Gòn là trục phát triển chiến lược của TPHCM tầm nhìn 100 năm
Vấn đề vì thế không nằm ở việc nên xây dựng thêm bao nhiêu công trình ven sông, mà ở câu hỏi: sông Sài Gòn có thể giúp Thành phố giải quyết những nhu cầu nào, nâng cao hiệu quả hoạt động của những ngành kinh tế nào và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước phát triển những sản phẩm, dịch vụ gì?
Một hướng đáng được ưu tiên nghiên cứu là phát triển hành lang logistics đường thủy thông minh, trong đó vận tải thủy là một thành phần, còn công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, điều phối vận hành và dịch vụ kỹ thuật giúp kết nối các hoạt động thành một hệ thống. Cách tiếp cận này không đặt mục tiêu biến toàn bộ dòng sông thành tuyến vận tải hàng hóa, mà tìm cách sử dụng lợi thế đường thủy để tổ chức tốt hơn các hoạt động kinh tế, đồng thời tạo ra thị trường cho công nghệ và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Logistics thường được hiểu là hoạt động vận chuyển, lưu kho và giao nhận hàng hóa. Nhưng trong nền kinh tế hiện đại, hiệu quả logistics còn phụ thuộc vào cách các phương tiện, bến bãi, kho hàng, mạng lưới đường bộ, dữ liệu và doanh nghiệp phối hợp với nhau. Một tuyến vận tải có chi phí thấp chưa chắc đã hiệu quả nếu phải chờ lâu tại bến, thiếu thông tin về lịch trình hoặc phát sinh nhiều chi phí trung chuyển. Ngược lại, một hệ thống được tổ chức tốt có thể giảm lãng phí mà không cần xây dựng thêm quá nhiều hạ tầng.
Logistics đường thủy thông minh vì vậy không đơn giản là đưa phần mềm hoặc AI vào hoạt động vận tải. Đó là cách tổ chức đồng bộ ba thành phần: hạ tầng và hoạt động thực tế; hệ thống thông tin phục vụ điều phối; mạng lưới doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, công nghệ, kỹ thuật. Ba thành phần này phải giải quyết cùng một bài toán vận hành, thay vì tồn tại như những dự án độc lập.
Thành phần thứ nhất là hạ tầng và dịch vụ tại các điểm kết nối. Những bến thủy, điểm trung chuyển, kho bãi và tuyến đường liên kết với khu công nghiệp, cảng biển hoặc trung tâm phân phối cần được xem xét trong mối quan hệ với nhau. Không phải vị trí nào ven sông cũng cần trở thành bến hàng hay trung tâm logistics. Chỉ những nơi có nhu cầu phù hợp, điều kiện luồng tuyến bảo đảm, kết nối thuận lợi và không xung đột với các chức năng đô thị quan trọng mới nên được xem xét phát triển.
Thành phần thứ hai là hệ thống điều phối dựa trên dữ liệu. Công nghệ có thể hỗ trợ cập nhật lịch trình, theo dõi phương tiện, dự báo thời gian đến, quản lý tình trạng thiết bị, phát hiện bất thường và phối hợp hoạt động giữa các đơn vị. AI có thể giúp phân tích dữ liệu để đề xuất lịch vận hành hợp lý hơn, giảm thời gian chờ hoặc sử dụng phương tiện hiệu quả hơn. Những ứng dụng này không cần bắt đầu bằng một trung tâm công nghệ quy mô lớn. Chúng có thể xuất phát từ các vấn đề cụ thể mà doanh nghiệp đang gặp phải và được kiểm chứng bằng kết quả thực tế.
Thành phần thứ ba là mạng lưới dịch vụ kỹ thuật và công nghệ. Khi nhu cầu vận hành được xác định rõ, doanh nghiệp trong nước có thể phát triển phần mềm chuyên dụng, thiết bị giám sát, cảm biến, dịch vụ bảo trì, kiểm định, phân tích dữ liệu và giải pháp quản lý. Đây là phần quan trọng giúp giá trị kinh tế vượt ra ngoài hoạt động vận tải trên sông. Dòng sông trở thành môi trường để các sản phẩm được thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa, từ đó mở rộng sang những tuyến vận tải, cảng, kho bãi và khu công nghiệp khác.

Nhiều tòa nhà cao tầng bên dòng sông Sài Gòn
Như vậy, tính thông minh của mô hình không nằm ở số lượng công nghệ được lắp đặt, mà ở khả năng giúp hệ thống vận hành tốt hơn, giảm chi phí, tăng độ tin cậy và tạo ra sản phẩm có khách hàng thực sự.
Hình thành hệ sinh thái dịch vụ
Nếu phát triển logistics đường thủy thông minh theo hướng trên, quy mô phù hợp không nhất thiết là một khu phức hợp tập trung với diện tích lớn. Hợp lý hơn là hình thành một mạng lưới gồm nhiều điểm có chức năng khác nhau, được kết nối bằng hạ tầng và hệ thống thông tin dùng chung ở mức cần thiết.
Một số điểm ven sông có thể đảm nhiệm chức năng bến thủy hoặc trung chuyển; những khu vực khác phù hợp với dịch vụ kỹ thuật, bảo trì và hỗ trợ phương tiện. Các trung tâm công nghệ, cơ sở nghiên cứu và đào tạo có thể đặt tại những khu vực hiện hữu thuận lợi hơn về giao thông, nhân lực và điều kiện hoạt động. Các thành phần không nhất thiết nằm cạnh nhau về mặt địa lý, nhưng cần phối hợp được trong quá trình vận hành.
Cách tổ chức theo mạng lưới giúp tránh tình trạng mọi chức năng đều phải tập trung vào một dự án lớn, kéo theo nhu cầu vốn cao và áp lực khai thác quỹ đất ven sông. Đồng thời, mô hình tạo cơ hội cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào từng khâu phù hợp với năng lực, thay vì chỉ đóng vai trò nhà thầu phụ trong các dự án hạ tầng lớn.
Về lĩnh vực, ngoài vận tải và kết nối đa phương thức, hệ sinh thái này có thể bao gồm công nghệ quản lý vận hành, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật, đào tạo nhân lực, nghiên cứu ứng dụng, an toàn giao thông thủy và quan trắc môi trường. Tuy nhiên, các lĩnh vực cần được lựa chọn theo nhu cầu thực tế. Không nên vì định hướng phát triển công nghệ mà đồng thời xây dựng nhiều trung tâm, cơ sở nghiên cứu hoặc khu sản xuất khi chưa xác định được khách hàng, đơn vị vận hành và nguồn thu duy trì hoạt động.
Đầu ra của mô hình cũng cần được hiểu rộng hơn khối lượng hàng hóa vận chuyển. Đó có thể là một hệ thống điều phối giúp giảm thời gian chờ; phần mềm có thể bán cho nhiều doanh nghiệp; thiết bị giám sát được sản xuất và cung cấp trong nước; dịch vụ kỹ thuật có khách hàng ổn định; hoặc đội ngũ lao động được đào tạo theo nhu cầu thực tế. Đây là những kết quả có khả năng tạo doanh thu, nâng cao năng suất và mở rộng thị trường ra ngoài phạm vi sông Sài Gòn.
Khi logistics đường thủy thông minh được lựa chọn làm động lực kinh tế chủ đạo để nghiên cứu, các chức năng khác cần được bố trí theo điều kiện từng khu vực và mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Trước hết, Thành phố cần rà soát hạ tầng hiện có để xác định những điểm thực sự cần nâng cấp. Thay vì đặt mục tiêu gia tăng số lượng bến hoặc diện tích kho bãi, cần làm rõ công trình nào giúp giảm chi phí, cải thiện kết nối hoặc nâng cao độ tin cậy của dịch vụ. Hạ tầng chỉ phát huy hiệu quả khi có nhu cầu sử dụng và phương án vận hành phù hợp.
Tiếp đó là phát triển doanh nghiệp công nghệ và dịch vụ kỹ thuật. Nhà nước có thể tạo điều kiện về tiêu chuẩn, môi trường thử nghiệm, khả năng tiếp cận dữ liệu phù hợp và cơ chế phối hợp. Doanh nghiệp đảm nhận việc phát triển, cung cấp và thương mại hóa sản phẩm. Trường đại học và viện nghiên cứu tham gia khi có bài toán cụ thể cần giải quyết, đồng thời tổ chức đào tạo gắn với vị trí việc làm và yêu cầu kỹ thuật thực tế.
Du lịch đường sông, dịch vụ ven bờ, không gian công cộng và bất động sản vẫn có thể phát triển tại những nơi phù hợp. Tuy nhiên, không nên buộc toàn bộ dòng sông phải theo một mô hình thương mại duy nhất. Có những đoạn sông cần ưu tiên giao thông và hoạt động kinh tế; có những khu vực cần bảo vệ cảnh quan, hệ sinh thái hoặc mở rộng không gian sinh hoạt cộng đồng. Quy hoạch cần phân biệt rõ các chức năng này để hạn chế xung đột và bảo đảm lợi ích lâu dài.
Đặc biệt, bảo vệ chất lượng nước, an toàn giao thông thủy, quản lý rủi ro ngập và sạt lở, thích ứng với biến đổi khí hậu phải được tính đến ngay từ đầu. Đây không phải những hạng mục bổ sung sau khi dự án hoàn thành, mà là điều kiện để hoạt động kinh tế có thể duy trì ổn định.
Sự chuyển đổi cần thiết không phải là thay thế toàn bộ mô hình phát triển truyền thống bằng một mô hình chỉ tập trung vào công nghệ. Sông Sài Gòn vẫn phải đảm nhận các chức năng giao thông, sinh thái, cảnh quan, văn hóa, du lịch và phục vụ đời sống cộng đồng. Nhưng những chức năng này cần được tổ chức trong một cấu trúc phát triển có mục tiêu, có liên kết và có cơ chế đo lường hiệu quả.
(Còn tiếp)
(CATP) Khi TPHCM bước vào giai đoạn phát triển mới thì cách tiếp cận theo 3 hướng: phát triển giao thông và hạ tầng ven sông; chỉnh trang cảnh quan, mở rộng không gian công cộng và du lịch; khai thác quỹ đất để phát triển nhà ở, thương mại và các dự án dịch vụ bắt đầu bộc lộ những giới hạn...